Chủ đề 3: Quá trình tiến hóa của loài người

Con người xuất hiện trên trái đất khoảng vài triệu năm. Cái nôi sinh ra loài người được các nhà khảo cổ học thống nhất là vùng Đông Phi khô cằn có nhiều đồng cỏ (savanne). Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến việc người vượn (Australopithecus) tiến hóa thành người (Homo) và quá trình chuyển tiếp từ người cổ đại đến người hiện đại diễn ra như thế nào?

a) Quá trình tiến hóa từ người vượn thành người (Homo)

Vào khoảng gần chục triệu năm trước do sự biến đổi địa chất đã tạo dãy núi ngăn cách Đông Phi và Tây Phi. Dãy núi chắn dọc này đã làm thay đổi khí hậu tạo ra sự khác nhau của thảm thực vật: Đông Phi là đồng cỏ còn Tây Phi là rừng cây to rậm. Những con vượn ở vùng Đông Phi phải xuống mặt đát kiếm ăn trên các đồng cỏ. Thức ăn của chúng là các quả, hạt, củ lá cây và các động vật nhỏ. Lúc này chúng vẫn là động vật (chưa gọi là người) do phải để toàn tâm sức vào việc kiếm mồi (chưa chủ dộng trong việc tạo ra nguồn thức ăn). Điều đó dẫn đến việc não của chúng không phát triển tư duy trừu tượng. Bằng chứng là các cá thể có tư duy trừu tượng hơn sẽ bị thất thế trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến việc xuất hiện tư duy trừu tượng (tuy rằng rất sơ khai) cho loài vượn ở Đông Phi. Ta thấy rằng vùng đất Đông Phi (Kenya, Ethiopia) nằm gần đường xích đạo nên nhiệt độ quanh năm không thay đổi nhiều. Khu vực này có các hồ và đầm thuộc thượng nguồn song Nil. Ở đây có mọc loại lúa nước tự nhiên, hàng năm theo mùa nước cây lúa mọc và trổ bông. Hạt của cây lúa này cũng là thức ăn ưa thích của vượn người. Chúng ngắt những bông lúa để ăn và đem về nơi ở để tiêu thụ dần. Do chúng ở trên mặt đất nên những hạt lúa còn lại rơi vãi ra đã nảy mầm thành cây và cho chúng nguồn thức ăn mới. Sự việc cứ tiếp diễn nhiều lần như vậy (có thể hàng triệu năm) đến lúc vượn người biết rằng chúng có thể tự tạo lấy thức ăn bằng cách rắc hạt lúa lên mặt đất. Từ vô thức đến ý thức vượn người đã chủ động tạo ra thức ăn (dù là một lượng rất ít trong số thức ăn cần thiết của chúng). Quá trình này đã biến vượn người thành người (Homo). Bởi vì khi chủ động được một phần thức ăn, bộ não của chúng không phải để toàn tâm vào việc kiếm mồi mà có một phần nào đó để phát triển tư duy trừu tượng (mà ta có thể gọi là sang tạo). Ta nên nhớ rằng nếu không chủ động được thức ăn thì dù có khỏe mạnh như sư tử cũng không thể có tư duy trừu tượng. Trong trường hợp này tối ưu nhất là ngủ để lấy sức khỏe tốt để đi săn mồi tiếp. Ta cũng còn phải thấy rằng lượng thức ăn chủ động là hữu hạn thì việc sáng tạo mới có ý nghĩa trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Ví dụ như động vật ăn cỏ (lượng thức ăn là vô hạn không bao giờ phải lo đến) thì việc sáng tạo là không cần thiết. Chúng chỉ lo chạy trốn kẻ săn mồi và sinh sản nên bộ não không phải là nơi ưu tiên nhất. Với việc phát triển một phần tự duy trừu tượng con người (Homo) đã sáng tạo công cụ thô sơ và tổ chức tốt hơn cho cuộc sống của mình và trở nên người khéo léo (Homo habils). Ở đây có một vấn đề là tại sao con người lại đứng thẳng đi bằng hai chân sau và có ít long. Ta thấy rằng việc đi bằng hai chân sẽ làm cho con người chạy chậm hơn và do đó bất lợi trong việc kiếm mồi. Do đã chủ động được một phần thức ăn nên bất lợi trên không dẫn đến thảm họa. Bù lại do việc hai chi trên được giải phóng thành hai tay, con người có nhiều cơ hội hơn cho các hoạt động khéo léo của mình. Còn ít long là do con người ít vận động hơn nên không cần nhiều lỗ chân long để giảm nhiệt khi chạy. Tóm lại, đó là hình thức lý tưởng cho hoàn cành mới khi sự chủ động được một phần thức ăn. Tuy vậy con đường tiến hóa là quanh co, khúc khuỷu và lâu dài chứ không phải thẳng bang và trải đầy hoa hồng do cuộc đấu tranh vô cùng khắc nghiệt. Đại diện tiêu biểu cho người khéo léo (Homo habilis) là nhân vật Luxi (Lucy) sống cách đây hơn 3 triệu năm được tìm thấy thông qua khai quật khảo cổ ở Ethiopia (Đông Phi) vào năm 1976.

b) Quá trình tiến hóa của người cổ thành người hiện đại

Ta đã biết rằng người cổ (Homo habilis) xuất hiện ở Đông Phi cách đây hơn 3 triệu năm. Người cổ cũng nhiều lần muốn đi ra khỏi cái nôi Đông Phi chật hẹp nhưng phần lớn đã thất bại do bị tiêu diệt trong cuộc đấu tranh sinh tồn hoặc thoái hóa thành động vật (không phải là người) có thể đó là hắc tinh tinh, đười ươi, khỉ Grigola (?) do bỏ tư thế đứng thẳng mà phải chạy bằng 4 chân. Tuy vậy, cũng có hai lần di dân thành công ra toàn châu lục.

_ Lần di dân thứ nhất gắn liền với việc phát minh ra lửa. Như ta đã biết khi ra khỏi Đông Phi đến những miền đất xa xích đạo thì khí hậu trong năm thay đổi theo mùa do đó việc tạo ra thức ăn bằng lúa là không thể thực hiện được đối với người cổ (Homo habilis). Hơn nữa do tư thế đứng thẳng chậm chạp trong việc kiếm ăn, cho nên họ bị tiêu diệt do không kiếm đủ thức ăn khi dời khỏi cái nôi đông phi . Như trên đã thấy, người khéo léo đã biết sử dụng công cụ bằng đá thô sơ. Trong quá trình này họ đã biết tạo ra lửa (qua việc ghè đập các viên đá lửa vào nhau). Ý nghĩa lớn nhất của việc phát minh ra lửa là cho con người có thể tiêu hóa được rất nhiều loại thức ăn. Như ta biết, thức ăn ở dạng tươi sống chứa nhiều axit và các chất hóa học khác rất khó cho việc tiêu hóa. Do vậy các con vật chỉ có đủ men tiêu hóa cho một số ít các loại thức ăn tươi sống. Trái lại thức ăn chín qua lửa, thì các loại axit và hóa chất bị phân hủy do đó rất dễ tiêu hóa. Hệ quả là khi con người có lửa làm chín thức ăn thì có thể ăn được rất nhiều loại thức ăn. Do vậy khi ra khỏi cái nôi Đông Phi con người vẫn có thể tồn tại được ( ở tư thế đứng thẳng) cho dù hoạt động có vẻ chậm chạp hơn các loài động vật khác. Tuy vậy, do không chủ động tạo ra nguồn thức ăn nên tư duy trừu tượng rất ít phát triển cho nên nền văn minh của họ tiến bộ rất chậm chạp. Những người này được gọi là người đứng thẳng (Homo Erectus) sống cách đây khoảng một triệu năm ở cả châu Phi, châu Âu, châu Á.

Tuy nhiên vào giai đoạn sau thì người đứng thẳng đã có một bước tiến mới trong quá trình săn bắt họ đã biết cách giữ các con mồi sống làm thức ăn dự trữ. Một số nhóm người đã dần dần hình thành khái niệm chăn nuôi, nghĩa là chủ động tạo ra nguồn thức ăn động vật qua việc chăm sóc chúng. Quá trình này dần dần được hoàn thiện( tuy rằng năng suất còn rất thất) và những người này đã trở nên một lớp người mới: người thông minh (Homo sapiens). Do đã chủ động được một phần thức ăn nên tư duy trừu tượng của não được điều kiện phát triển. Những người này có đời sống xã hội công cụ và văn hóa cao hơn hẳn những người đứng thẳng và dần dần thay thế họ đại diện tiêu biểu nhất của người thông minh là người Neanderthal được phát hiện ở Đức (năm 1856) sống cách đây khoảng 20 vạn năm.

_ Lần di dân thứ hai gắn liền với việc phát minh ra tiết gieo trồng (lịch dương lịch). Trong khi người đứng thẳng (Homo Erectus) và sau đó là người thông minh (Homo Sapiens) đang tung hoàng ở các châu lục thì ở Đông Phi nơi cái nôi của loài người những người khéo léo (Homo Habilis) và cũng có thể gọi là người đứng thẳng (Homo Erectus) do đã biết dùng lửa đang âm thầm cuộc sống của mình. Họ vẫn cặm cụi muốn đi ra ngoài với những hạt giống lúa của mình. Như ta biết trở ngại chính cho việc gieo trồng không thành công là do cây lúa là cây ngắn ngày nên tại những vùng có khí hậu thay đổi theo mùa (ở xa xích đạo) thì ta phải gieo trồng đúng thời vụ. Nghĩa là trong một năm ta chỉ có thể gieo trồng vào một số ngày nhất định, được gọi là thời vụ gieo hạn. Đối với chúng ta bây giờ thì điều đó không có vấn đề gì vì khoa học rất phát triển, song đối với người cổ đại thì việc đó khó tựa như việc đi lên trời. Vậy mà qua bao thời gian thử thách thì một bộ phận người ở vùng giáp ranh (phía nam hoang mạc Sahara) đã làm được điều đó. Họ đã xác định được thời gian gieo trồng trong năm của cây lúa khi muốn mang giống cây này đi gieo trồng lên phía bắc dọc theo châu thổ sông Nil. Cứ như vậy theo thời gian những người này cùng với cây lúa đi lan tỏa ra khắp các châu lục. Kĩ thuật trồng trọt đã ra đời và cùng với nó con người đã tự làm chủ được khá nhiều nguồn thức ăn của mình. Và hệ quả tất yếu là xuất hiện một loại người mới được gọi là người thông minh thông minh (Homo Sapiens Sapiens). Lý do đơn giản là kỹ thuật trồng trọt cao hơn hẳn kỹ thuật chăn nuôi do đó tư duy trừu tượng của con người thông minh thông minh (Homo Sapiens Sapiens) phải hơn hẳn người thông minh (Homo Sapiens). Hệ quả là những người này tổ chức cuộc sống thông minh hơn và do đó họ đã thay thế lớp người kia làm chủ hành tinh của chúng ta đại diện tiêu biểu cho lớp người sau này là người Cro – Magnon (ở Pháp) xuất hiện cách đây vài vạn năm.

Ta hãy thử suy nghĩ xem làm cách nào mà người cổ xưa xác định được tiết gieo trồng. Có thể họ đã dựa vào các bóng núi (hoặc cây cao dịch chuyển khi mặt trời đi từ bắc xuống nam hoặc từ nam ra bắc trong một năm ở vị trí hơi xa xích đạo, ở gần chí tuyến bắc, thì sự dịch chuyển này là đáng kể. Sau rất nhiều thất bại thì con người biết khi bóng ở vị trí nào thì ta gieo trồng cho năng xuất tốt nhất. Đây có lẽ là phát minh sinh học và cũng là phát minh khoa học vĩ đại nhất của nhân loại sau này kim tự tháp, đền Ăng Co, tháp Chăm, Đền Maya… đều là các đài thiên văn để tính lệch mặt trời phục vụ cho thời vụ gieo trồng những công trình này càng nguy nga đồ sộ khi ở các châu thổ sông lớn. Tuy vậy, khi đi lên phía bắc xa hơn ở các nơi có vĩ độ cao thì dùng bóng của mặt trời làm việc không được chính xác nữa, người ta đã thay nó bằng đường hoàng đạo của các sao (như các nhà thiên văn Trung Hoa xa xưa).  Trường hợp đặc biệt là ở nước Anh khi vừa ở vĩ độ cao vừa có nhiều sương mù rất khó xác định bằng các phương pháp trên. Ở đây họ phải xây dựng đài thiên văn bằng các cột đá ở Stones–Hells. Người ta xác định vị trí của mặt trời mọc trên đường chân trời so với vị trí của các cột đá.

c) Kết luận

Quá trình xuất hiện loài người là quá trình ngẫu nhiên không do một ngoại lực nào chi phối, nhưng phải trong những yếu tố ngoại cảnh nhất định. Ngày này do khoa học kỹ thuật phát triển nên công việc tính lịch cũng như tiết gieo trồng trở nên hiển nhiên dẫn đến việc ta quên mất tầm quan trọng của nó. Điều đó giống như không khí luôn ở quanh ta nên ta ít để ý đến nó.

Thay cho lời kết ta dẫn bài ca dao vẫn lưu truyền trong dân gian:

“Nhất sĩ nhì nông

Hết gạo chạy rông

Nhất nông nhì sĩ”

Tác giả: NGUYỄN Tiến Đại
Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
18 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
 
Author: NGUYEN Tien Dai
Institute of Mathematics, Vietnam Academy of Science and Technology
18 Hoang Quoc Viet road, Cau Giay district, Hanoi, Vietnam
This entry was posted in Nguồn gốc loài người. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s